Dự thảo Nghị
định hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng chống ma
túy về quản lý sau cai nghiện ma túy.
Thực hiện điều 33- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật phòng, chống ma túy, số 16/2008/QH12 ngày 03-06-2008, Chính phủ đang gấp rút chuẩn bị ban
hành Nghị định Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật phòng chống ma túy về quản lý sau cai nghiện ma túy.
Theo dự thảo:
- Thời gian quản lý sau cai nghiện đối với người chấp hành xong thời gian cai nghiện ma túy bắt buộc là từ một đến hai năm.
Không áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện đối với nữ trên 55 tuổi, nam
trêm 60 tuổi.
- Trong Nghị định này, các
từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Nơi cư trú của công
dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công
dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú (tính theo đơn vị hành chính cấp xã).
2. Người có nguy cơ tái
nghiện cao là người đang cai nghiện bắt buộc tại các Trung tâm Chữa bệnh - Giáo
dục - Lao động Xã hội thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có thời gian nghiện ma tuý từ năm năm trở lên hoặc sử dụng ma tuý với hình
thức tiêm chích từ hai năm trở lên.
b) Đã cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh -
Giáo dục - Lao động xã hội từ ba lần trở
lên.
c) Có tiền án về các tội liên quan đến ma tuý.
d) Không có nghề nghiệp; có nghề nghiệp nhưng không có việc làm ổn định trước khi vào cơ sở
cai nghiện ma tuý; không có nơi cư trú
nhất định.
e) Trong thời gian cai nghiện có hành vi vi phạm nội
quy, quy chế của Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội mà đã bị thi
hành kỷ luật từ hai lần trở lên.
3. Trung tâm quản lý sau
cai nghiện là đơn vị sự nghiệp công lập do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thành lập để thực
hiện công tác quản lý sau cai nghiện tập trung đối với người đã hoàn thành thời
gian cai nghiện ma tuý bắt buộc nhưng có nguy cơ tái nghiện cao. Việc thành
lập, giải thể, tổ chức, hoạt động thực hiện theo quy định của pháp luật hiện
hành.
4. Tái nghiện là tình trạng người nghiện ma tuý sau khi đã thực hiện
xong quy trình cai nghiện ma túy theo quy định của pháp luật nhưng vẫn tiếp tục
sử dụng chất ma tuý.
5. Đưa ra khỏi danh sách quản lý người nghiện là
việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp
xã) sau khi xem xét, đánh giá quá trình cai nghiện, chữa trị và quản lý sau cai
nghiện tại nơi cư trú hoặc căn cứ vào Giấy chứng nhận hết thời gian quản lý sau
cai nghiện do Trung tâm cấp để đưa người nghiện ma túy ra khỏi danh sách quản
lý trên địa bàn. -------------------------------------------
Điều 33- Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật phòng, chống ma túy, số 16/2008/QH12 ngày 03-06-2008
quy định:
1. Người nghiện ma túy sau
khi chấp hành xong thời gian cai nghiện ma túy bắt buộc tại cơ sở cai nghiện
phải chịu sự quản lý sau cai nghiện từ một năm đến hai năm theo một trong hai
hình thức sau đây:
a)
Quản lý tại nơi cư trú do Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện đối với người không
thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này;
b)
Quản lý tại cơ sở quản lý sau cai nghiện đối với người có nguy cơ tái nghiện
cao.
2.
Nội dung quản lý sau cai nghiện bao gồm:
a)
Quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ phòng, chống tái nghiện; hỗ trợ học nghề, tìm việc
làm và tham gia các hoạt động xã hội để hoà nhập cộng đồng đối với người được
quản lý tại nơi cư trú;
b)
Quản lý, tư vấn, giáo dục, dạy nghề, lao động sản xuất và chuẩn bị tái hòa nhập
cộng đồng đối với người được quản lý tại cơ sở quản lý sau cai nghiện.
3.
Người được quản lý tại cơ sở quản lý sau cai nghiện tham gia lao động sản xuất
được hưởng thành quả lao động của mình theo quy định của Chính phủ.
4.
Người đang được quản lý tại cơ sở quản lý sau cai nghiện mà bỏ trốn thì người
đứng đầu cơ sở ra quyết định truy tìm; cơ quan công an có trách nhiệm phối hợp
với cơ sở quản lý sau cai nghiện trong việc truy tìm để đưa người đó trở lại cơ
sở thực hiện tiếp thời gian còn lại.
5.
Cơ sở quản lý sau cai nghiện phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức
khỏe, tài sản của người được quản lý sau cai nghiện.
6.
Người đã hoàn thành thời gian quản lý sau cai nghiện theo quy định tại điểm b
khoản 1 Điều này được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, gia đình tiếp nhận,
tạo điều kiện học nghề, tìm việc làm, vay vốn, tham gia các hoạt động xã hội để
hoà nhập cộng đồng, giúp đỡ phòng, chống tái nghiện.
7.
Chính phủ quy định cụ thể tiêu chí xác định đối tượng có nguy cơ tái nghiện cao
quy định tại điểm b khoản 1 Điều này; thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục
đưa vào cơ sở quản lý sau cai nghiện; chế độ quản lý và chính sách hỗ trợ cho
người sau cai nghiện; tổ chức và hoạt động của cơ sở quản lý sau cai nghiện.”