Phước Báo Hiện Tiền
Ngày
xưa ở xứ Hòa Na, dân chúng phần nhiều tín ngưỡng Phật giáo. Có vợ chồng
chàng Kế Sa La cũng nhờ ảnh hưởng tinh thần ấy, mà nổi tiếng đôi vợ
chồng hiền đức.
Nhà Kế
Sa La rất nghèo, hằng ngày phải vất vả hai sương một nắng, tranh đấu với
bát cơm manh áo; nhưng vợ chồng vẫn vui vẻ thân mật, an phần trong cảnh
thanh bần, không bao giờ vì tiền tài danh vọng, mà làm hoen ố được lòng
trong sạch của đôi vợ chồng chàng. Ngoài ra, chàng lại không quên đem
chánh pháp mà mình đã hiểu biết, khuyến khích mọi người trở về đường
thiện; mà chàng có thể đảm đương.
Thuở
ấy, miền ngoại ô xứ Hoà Na vừa bị mất mùa, lại thêm nạn tật dịch, nên
dân chúng miền ấy đói và chết rất nhiều. Các nhà hảo tâm trong xứ hiện
thời, hoặc chung hoặc riêng, đến chùa tổ chức nhiều cuộc bố thí. Trước
nhờ các Tăng sĩ cầu nguyện cho những kẻ vừa bỏ mình vì tật dịch được
siêu thoát và nạn tật dịch đương hoành hành mau chấm dứt; sau đem các
phẩm vật phân phát cho các nạn nhân đói khổ.
Vì vất
vả theo sinh kế, vả lại cũng ít lui tới các phương xa, nên nạn tật dịch
đói kém hoành hành ở ngoại ô vợ chồng Kế Sa La không hay biết gì
cả.
Theo
lệ thường, sáng nào Kê Sa La cũng cùng vợ chia nhau đến các nhà điền chủ
để làm mướn. Nhưng lạ thay, sáng nay Kế Sa La đi một đoạn đường lại gặp
những vị trưởng giả, khăn áo chỉnh tề, theo sau những tên gia đinh hì
hục mang gánh gạo cơm mền áo… gặp hai ba phen như thế, Kế Sa La khống
ngớt ngạc nhiên, dừng lại hỏi: Chàng mới biết vùng ngoại ô đang bị nạn
và những bậc trưởng giả này đem các phẩm vật đến chùa để mở cuộc bố thí.
Bị kích thích bởi tình đồng loại, lại thêm tủi cho số phận nghèo nàn của
mình; trong khi đồng bào đang lâm cơn đói khổ mà mình không có một quan
tiền, một đấu gạo, một viên thuốc đỡ đần. Càng nghĩ chàng càng đau đớn
sầu tủi! Trong trí chàng hiện ra nhiều dấu hỏi: làm thế nào có tiền để
giúp đồng loại? Và chàng nguyện rằng: nếu làm cách nào có tiền gạo để bố
thí dù thân bị đọa đày suốt đời chàng cũng vui lòng đổi lấy. Ðến đây, Kế
Sa La không còn thiết gì đến ăn làm nữa, lủi thủi về nhà.
Tối
đến vợ chàng về, thấy chồng mặt mày ủ rũ, ngồi một mình thở ngắn than
dài hình như bất đắc chí vì một việc gì… Chị vợ lo sợ hỏi chồng, nhưng
chàng tìm cơ thối thoát không trả lời, vì chàng biết trước rằng: nếu đem
sự thật nói với vợ, đã không ích gì mà lại gieo thêm cho vợ mối sầu tủi
như mình, nhưng sau hai ba phen thiết tha gạn hỏi của vợ, Kế Sa La không
nở giấu giếm nữa mới đem đầu đuôi câu chuyện thuật lại vợ nghe. Vợ chàng
không kém gì chàng, cũng sầu, cũng tủi, cũng thở than như chàng! Nhưng
sau một hồi suy nghĩ, chị vợ hăng hái nói: nếu chàng bằng lòng chị ta sẽ
đến giúp việc cho các nhà phú hộ, thế nào cũng nhận đặng một số tiền, để
làm việc bố thí. Kế Sa La không tán thành, và chàng không nở để cho vợ:
nữ nhi yết ớt một mình đem thân thể làm tôi mọi người.
Chị vợ
lại nói: Hay là cả chúng ta đều đến ở giúp việc cho một nhà đại phú,
trước nhận được một số tiền lớn để bố thí, sau có thể giúp đỡ nhau trong
những công cuộc nặng nề. Ý kiến này được Kê Sa La hoan hỷ tán đồng. Thế
là sáng mai đôi vợ chồng Kế Sa La lên đường đến một nhà đại phú ở cạnh
làng, xin giúp việc và nhận trước một số tiền.
Vốn
nghe vợ chồng Kế Sa La là người hiền đức, nên nhà đại phú kia bằng lòng
ngay và cho vợ chồng Kế Sa La mượn trước một năm quan tiền, lại được
phép về nhà bảy ngày để sắp đặt công việc; và nếu trong bảy ngày ấy vợ
chồng Kế Sa La đem đủ số tiền hoàn lại ông, ông cũng vui lòng trả quyền
tự do cho vợ chồng chàng.
Tiền
bạc giấy tờ, vợ chồng Kế Sa La hết sức vui mừng, đi vào chợ mua các phẩm
vật… và đến chùa Ðàn Ba gần đấy, xin thiết lập cuộc bố thí ngay tại
chùa, sau sáu ngày chú nguyện, đến ngày thứ bảy sẽ phân phát các phẩm
vật.
Việc
làm ấy rất thích hợp với hạnh Từ Bi, lại thấy lòng chí thành của vợ
chồng Kế Sa La, nên các Tăng sĩ trong chùa đều tận tâm giúp đỡ, để cho
cuộc bố thí này được thập phần viên mãn.
Chiều
ngày ấy, Quốc vương bản xứ cũng cho người chuyên chở rất nhiều phẩm vật
đến chùa Ðàn Ba mở hội và cũng định ngày thứ bảy bố thí. Vị Trú trì chùa
Ðàn Ba tâu vua: ngày ấy đã có vợ chồng Kế Sa La định mở hội trước rồi,
yên cầu nhà vua chung vào hội bố thí ấy, nếu không xin hoãn lại ngày
sau. Nhà vua phán: Trẫm thiếu gì tiền bạc mà phải chung chạ với người
khác và trẫm đây đường đường một vị quốc chủ, Kế Sa La nào đó lại không
vì trẫm mà nhường cho trẫm được như nguyện, hay sao? Vị trú trì đem lời
thuật lại với vợ chồng Kế Sa La.
Kế Sa
La nhờ vị trú trì tậu lại nhà vua: Vợ chồng chàng xin chịu tội, chứ
không thể thay đổi cuộc bố thí qua ngày khác.
Với ý
định kiên quyết ấy, nhà vua hết sức ngạc nhiên, cho đòi vợ chồng Kế Sa
La vào hỏi. Tiếp diện nhà vua, Kế Sa La đem hết cả sự tình tâu rõ là: Vợ
chồng chàng đã bán mình cho một nhà địa chủ lấy tiền mở hội bố thí, đến
ngày thứ tám đã chính thức làm tôi tớ cho người, không còn đi lại tự do
nữa.
Nghe
xong câu chuyện, nhà vua hết sức cảm phục cử chỉ của vợ chồng Kế Sa La.
Ngài bùi ngùi than rằng: nếu trong quốc độ này mà được nhiều người có
“tâm từ” như vợ chồng Kế Sa La, thì còn đâu những kẻ tham lam ích kỷ,
lường gạt đồng bào và còn đâu những kẻ bơ vơ trong xó chợ đầu đình, lê
mình khắp xứ, mà không đủ chén cơm lót dạ, manh áo che thân!
Tức thì nhà vua lại sai
người đem vàng bạc ra ban thưởng và hạ chiếu cấp cho vợ chồng Kế Sa La
được trọn đời hưởng quyền lợi trong mười xã. Ngài lại kêu vợ chồng Kế Sa
La đến phán rằng: “Ðây là PHƯỚC BÁO HIỆN
TIỀN” của hai người đó và trẫm vui lòng nhượng hai người mở
cuộc bố thí vào ngày thứ bảy để cho hai người được toại
nguyện”.
Vợ
chồng Kế Sa La cảm động lạy tạ ơn vua. Và đôi vợ chồng ấy, không quên
niệm hồng ân đức Phật đã tác thành cho vợ chồng chàng: “đức tánh Từ Bi,
nâng cao Ðạo sống”. Nên nay mới gặp nhà vua đức độ, đem lại cho vợ chồng
chàng đến cuộc đời sung sướng giàu sang.
Thuật giả: Thích Ðức
Tâm
Dắt một người mù qua đường,
cho người đứt tay miếng giẻ rách, lượm cây gai giữa đường, cho con kiến
hạt cơm, đều gọi là bố thí.