Hồi dương nhân quả
(Sự tích ông Lâm Tự Kỳ bị
quỷ bắt lầm, sống lại thuật chuyện tai nghe mắt thấy ở cõi âm. Nhứt Điện Vương
xử 43 án và nhờ uống Phát Huệ nên lúc sống lại mới nhớ mà thuật lại)
Án thứ 6: Phán quan đọc án kế: “Họ Thơ ở phủ Thừa
Thiên, con chức điền sử, bổ làm thơ lại (thơ ký) tại phủ. Ba mươi tuổi mà chết.
Hồi xuân xanh đánh bóng quyến người, phá của chúng, hại mạng người không biết
bao nhiêu, tuy tại chúng nó đắm sa, song cũng tại ngươi tham của mà quyến luyến,
không thể nào dung tội ngươi được. Huống chi ngươi trưởng thành lại càng đắm sa
tửu sắc, lấy vợ con người, chẳng biết bao nhiêu mà kể. Nếu nàng nào không thuận
thì lấy thế quan mà vu họa hại người! Cho nên vào nhà nào, phụ nữ cũng sợ oai
mà chịu hiếp. Tội dâm ác thái quá, giết cũng chưa vừa, đáng giam vào địa ngục
đao kim”.
Phán quan
tâu: “Tên tội này có hiếu với mẹ lắm. Mẹ ngoài sáu mươi tuổi đau nặng. Y sắc
thuốc nếm rồi mới dâng, đêm nằm không cởi dây nịt. Vài tháng như vậy, cơn mẹ bịnh
ngặt, không ăn đặng, y cắt thịt bắp vế nấu cho mẹ uống đỡ nước cho bổ, sống rán
vài ngày. Như vậy cũng nên rộng dung chút đỉnh”.
Phán: “Thượng
Đế tuy ghét tội dâm ác lắm mà rất trọng con thảo. Bởi nó biết nuôi cha mẹ là hiếu,
mà chẳng biết phải giữ mình mới trọn hiếu. Trẫm tha khỏi cầm ngục đao kim, lại
đặng luân hồi, song làm điếm lầu xanh mà đền tội dâm ác. Nếu sau biết ăn năn sẽ
nghị lại”. Phán rồi cấp điệp (giấy) cho qua vua Đông Nhạc mà đầu thai.
Án thứ 7: Phán quan đọc án kế: “Họ Tôn ở huyện
Võ Xưng 19 tuổi cải họ Trưng, đi lính hầu tại phủ, đã hay bợ đỡ quan phủ, lại
thạo mua việc. Lớn mật dạn dĩ, gian hùng hẳn hòi. Hầu việc các dinh, ông quan
nào cũng bị y nói gạt hết. Đến nỗi mạng người sống thác, đều tại tay y; việc
làm phải quấy đặng thất, đều tại miệng nó. Sự dữ đã đầy, tội đếm không hết. Luận
tội dương gian khó thứ, luật hình âm phủ không dung. Mau dẫn quan địa ngục đao
sơn”.
Họ Tôn tâu: “Tôi có cúng năm chục lượng bạc mà thếp vàng cho Phật tại
chùa Báo Ân. Lại cúng bạc dầu thắp đèn lưu ly bàn Phật tới ba năm. Vả lại mỗi
tháng mồng một và ngày rằm tôi đều ăn chay, niệm Phật Di Đà một ngàn câu”.
Phán:
“Đồ khốn này! Nếu làm dữ, sau biết ăn năn chừa lỗi, làm phúc niệm Phật Trời thì
Trời tha tội. Có đâu mượn tiếng cúng chùa niệm Phật, mà làm dữ thẳng tay, Phật
Di Đà há giúp sức cho ngươi làm dữ sao? Ví dụ: kẻ vì tửu sắc, sanh bệnh, uống
thuốc bổ dưỡng lại. Nếu bỏ tửu sắc, thì uống mới hay. Nếu mê sa tửu sắc như
xưa, thuốc bổ sao cho lại tửu sắc? Lẽ nào thuốc giúp sức cho kẻ tửu sắc nổi? Dẫn
nó qua địa ngục cho mau, đừng để cãi rán”.
Án thứ 8: Phán quan đọc án kế: “Họ Ngô, ở huyện
Huỳnh Cang hồi nhỏ đi học, thi khoa tú tài không đậu, học qua nghề viết đơn mướn”.
Vua phán: “Xưa nay kẻ viết đơn thưa kiện, không ai hiền lành bao giờ”. Họ Ngô
tâu: “Tôi là kẻ đại thơ, cứ việc thế cho kẻ dốt, chớ không làm điều chi dữ”.
Phán: “Kẻ bố thí, phước chẳng tại của mà tại lòng; kẻ chém giết, tội chẳng tại
gươm mà tại ý. Ngươi đã viết đơn kiện cáo, trong ý tính nói bó buộc cho gắt như
muôn ngọn lửa cháy lan khó dập. Nghiên mực độc hơn ao huyết, ngòi viết bén quá
lưỡi gươm. Đặt một chữ, phá nhà người ta rất dễ; sửa một nét, giết mạng chúng
như chơi. Dưới lưỡi độc, đủ đồ roi kẹp; trên tờ đơn, đều cửa ngục hình. Sửa đi
còn sửa cho hay, buộc trước lại buộc sau cho gắt! Kẻ quả tang muốn bắt cho mau,
người không tội quyết gài cho mắc. Có khi trợ tiên cáo mà nói gian, gặp lúc
binh bị cáo mà ngoái lại. Có khi bày chước quỷ, làm bộ giết bị mà hại tiên (nguyên
cáo). Nhiều lúc đặt lời ma túy, làm bộ giết tiên mà hại bị. Lòng độc ác như yêu
khó độ, mưu sâu tợ quỷ khó mò. Kể sao xiết sự tội ác của ngươi, mau dẫn nó qua
mổ bụng rút ruột, hành cho đủ tam đồ, rồi sẽ đày nơi địa ngục”.